Monthly Archives: May 2013

lá vối

Bán lá vối khô

Nấm linh chi Hàn Quốc giá 500 nghìn/kg

Giá bán: 5 nghìn/lạng (50 nghìn/kg)

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Hà Nội

Điện thoại: 0978.996.997

Tên khoa học:

lá vối

lá vối

Eugenia operculata Roxb., họ Sim (Myrtacaeae).
Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi làm trà uống, làm thuốc.
Bộ phận dùng:

Nụ hoa, vỏ thân, lá.
Thành phần hoá học chính:

Lá chứa tanin, flavonoid, Alcaloid, tinh dầu, các bộ phận khác chứa sterol, chất béo…
Công dụng, cách dùng:

Lá, nụ hoa pha trà để uống.
Lá, vỏ thân, hoa làm thuốc chống đầy bụng, khó tiêu.
Nước sắc đậm đặc của lá dùng để sát trùng, rửa mụn nhọt, lở loét.
Chú ý:

Cây Vối rừng (Eugenia jambonala Lamk.) cũng được dùng như cây Vối.

thục địa

Thục địa

Giá bán: 15 nghìn/lạng

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997

Tên thuốc: Thục địa

( Radix Rehmanniae Glutinosae Conquitae)

thục địa

thục địa

Thục địa là do Sinh địa chế biến thành, được ghi đầu tiên trong sách Bị ấp thiên kim yếu phương, tập 27 với tên Thục can địa hoàng. Thục địa là phần rrễ của cây Địa hoàng ( Rehmannia glutinóa Libosch, thuộc họ Hoa mõm chó ( Scrophulariaceae).

Tính vị qui kinh:

Ngọt hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo Y văn cổ:

Sách Bản thảo thập di: ôn.
Sách Bản thảo cương mục: ngọt hơi đắng.
Sách Bản thảo cương mục: ngọt, hơi đắng, ôn, nhập thủ túc thiếu âm, quyết âm kinh.
Sách Bản thảo tân biên: vị ngọt, ôn.
Sách Bản thảo tùng tân: nhập túc tam âm kinh.

Thành phần chủ yếu:

B-sitosterol, mannitol, stigmasterol, campesterol, rehmannin, catalpol, arginine, glucose.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Dưỡng huyết tư âm, bổ tinh ích tủy. Chủ trị các chứng huyết hư, phụ nữ kinh nguyệt không đều, băng lậu .can thận âm hư, chứng tiêu khát, tinh huyết hư.

Trích đoạn Y văn cổ:

Sách Bản thảo thập di: “ôn bổ”.
Sách Trân châu nang: “đại bổ huyết hư, bất túc thông huyết mạch, ích khí lực”.
Sách Bản thảo cương mục (tập 16): “bổ cốt tủy, trưởng cơ nhục, sinh tinh huyết, bổ ngũ tạng, nội thương bất túc.làm rõ tai mắt, làm đen răng tóc, nam tử ngũ lao thất thương, nữ tử thương trung bào lậu, kinh lậu bất điều, thai sản bách bệnh”.
Sách Cảnh nhạc toàn thư:” bổ huyết lấy Thục địa làm chính mà Khung qui làm tá dược. trị âm huyết hư không thể không có Thục địa”.
Sách Dược phẩm hóa nghĩa: “bổ huyết lấy Thục địa mà nấu chưng rượu, vị đắng thành ngọt, tính lương thành ôn vào kinh can bổ huyết… ích tâm huyết, bổ thận thủy”.
Sách Bản thảo tùng tân: ” tư thận thủy cốt tủy, lợi huyết mạch, bổ ích chân âm, làm rõ tai mắt, làm đen râu tóc. Còn bổ tỳ âm, trị cửu tả, trị lao thương phong tý, âm hư phát nhiệt, ho khan, ho có đàm, suyễn, tức khó thở. sau khi mắc bệnh chân đùi đau nhức, sau đẻ bụng rốn đau cấp, chứng cảm âm hư, tiện táo, không ra mồ hôi, các chứng huyết động, tất cả chứng can thận âm hư, bách bệnh hư tổn là chủ dược thuốc tráng thủy”.

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

Nước sắc Đại hoàng có tác dụng kháng viêm. Đối với chuột cống, thực nghiệm gây sưng tấy bằng Formalin vùng chân đùi, thuốc làm giảm sưng rõ.
Địa hoàng làm hạ đường huyết. Cũng có báo cáo nói Địa hoàng làm tăng cao đường huyết của chuột cống hoặc không ảnh hưởng đến đường huyết bình thường của thỏ.
Thuốc có tác dụng cường tim, hạ áp, cầm máu, bảo vệ gan, lợi tiểu, chống chất phóng xạ, chống nấm.
Thuốc có tác dụng ức chế miễn dịch kiểu cocticoit nhưng không làm ức chế hoặc teo vỏ thượng thận. Thực nghiệm đã chứng minh Sinh địa và Thục địa đều có thể làm giảm tác dụng ức chế chức năng vỏ tuyến thượng thận của cocticoit.

Ứng dụng lâm sàng:

Trên lâm sàng Đông y, thường dung Thục địa trong các bài thuốc để trị các chứng sau:

1.Trị chứng huyết hư kinh nguyệt không đều ở phụ nữ hoặc các chứng huyết hư khác như sắc da tái nhợt, váng đầu, hoa mắt, ù tai, thiếu máu: thường dùng bài Tứ vật thang (Cục phương) gia giảm.

Tứ vật thang: Thục địa 20g, Đương qui, Bạch thược mỗi thứ 12g, Xuyên khung 6 – 8g.
Gia giảm: Khí hư gia Đảng sâm, Hoàng kỳ để bổ khí sinh huyết, nếu ứ huyết nặng gia thêm Đào nhân, Hồng hoa ( tức bài Đào hồng Tứ vật) để tăng tác dụng hoạt huyết hóa ứ. Trường hợp huyết hư kiêm hàn gia Nhục quế, Bào khương để ôn dưỡng huyết mạch. Nếu huyết hư sinh nội nhiệt gia thêm Liên kiều, Đơn bì, Thục địa thay bằng Sinh địa để lương huyết dưỡng huyết. Trường hợp huyết hư kèm chảy máu bỏ Xuyên khung gia A giao, Hoa hòe để bổ huyết chỉ huyết.

2.Trị chứng âm hư ( hư nhiệt sốt âm ỉ vào chiều tối nặng hơn, sôt kéo dài, ra mồ hôi trộm, môi khô, lưỡi thon đỏ, mạch tế, sác.) thường gặp trong các bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục, bệnh ung thư suy kiệt, bệnh chất tạo keo, viêm đa khớp dạng thấp, bệnh suy giảm miễn dịch . tùy tình hình bệnh lý có thể chọn dùng các bài sau:

Tả qui hoàn ( Cảnh nhạc toàn thư): Thục địa 20g, Sơn thù, Câu kỷ tử, Thỏ ty tử, Lộc giác giao, Qui bản mỗi thứ 12g, Sơn dược 16g, Ngưu tất 12g, tán bột mịn luyện mật làm hoàn. Mỗi lần uống 8 – 12g, ngày 2 lần.
Lục vị Địa hoàng hoàn ( Tiểu nhi dược chứng trực quyết): Thục địa hoàng 32g, Sơn dược 16g, Sơn thù 16g, Bạch linh, Trạch tả, Đơn bì mỗi thứ 12g. Thục địa sắc lấy nước còn bã cùng các vị thuốc khác sấy khô tán bột mịn trộn với nước Thục địa cho thêm mật ong vừa đủ làm hoàn nhỏ. Mỗi lần uống 8 – 12g, ngày 2 – 3 lần với nước sôi nguội hòa nước nuối nhạt, chủ yếu là bổ thận âm.
Đại bổ âm hoàn ( Đơn khê tâm pháp): Thục địa (rượu chưng), Qui bản ( dấm chích) mỗi thứ 24g, Tri mẫu, Hoàng bá mỗi thứ 16g, Thục địa sắc lấy nước như trên, các vị thuốc tán bột mịn cùn tủy heo chưng chín luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 8 – 12g, ngày uống 2 lần sáng tối.

Đối với những bệnh viêm thận mạn, huyết áp cao, tiểu đường, suy nhược thần kinh thể âm hư, dùng bài Lục vị gia giảm có kết quả tốt, có thể cải thiện chức năng thận ( Nghiên cứu dược lý bài Phức phương Lục vị địa hoàng hoàn, Tác dụng của thuốc đối với huyết áp và chức năng thận đối với mô hình viêm thận của chuột trắng to – Tạp chí Nội khoa Trung hoa 12:23-25,1964.

3.Trị hư suyễn: Kinh nghiệm cổ nhân có nói: ” Thục địa là thuốc trị hư đờm”. Bệnh nhân hư suyễn có thể dùng Thục địa uống thay trà phối hợp với Ngưu tất càng tốt. Có thể dùng các bài:

Đô khí hoàn ( Lục vị địa hoàng gia Ngũ vị tử) mỗi lần 8 -12g, ngày 2 lần, tùy tình hình bệnh có thể gia vị sắc uống.
Kim thủy lục quân tiễn ( Cảnh nhạc toàn thư): Đương qui 12g, Thục địa 16g, Trần bì 6g, Bán hạ chế gừng 8g, Bạch linh 12g, Chích thảo 4g, sắc uống.

4.Trị táo bón do âm hư: thường trở thành tập quán dùng Thục địa 80g sắc với thịt nạc heo uống.

5.Trị tiểu đường: dùng bài:

Sinh tân chỉ khát thang ( kinh ngiệm): Đại Thục địa 12g, Thái tử sâm 16g, Sơn dược 20g, Ngũ vị tử 8g, sắc uống.

6.Trị huyết áp: mỗi ngày dùng Thục địa 20 – 30g liên tục trong 2 tuần. Trị 62 ca kết quả tốt, huyết áp và cholesterol đều hạ, triglycerid giảm, não huyết lưu đồ và điện tâm đồ đều được cải thiện.

7.Trị viêm thoái hóa cột sống: dùng Thục địa 30 cân, Nhục thung dung 20 cân, đều sấy khô, tán bột mịn, Cốt toái bổ, Dâm dương hoắc, Kê huyết đằng, mỗi thứ 20 cân, La bạc tử 10 cân, sắc thành cao còn 22 cân, gia mật 3 cân, trộn đều luyện thành hoàn nặng 2,5g/hoàn, mỗi lần uống 2 hoàn, ngày uống 2 – 3 lần, liệu trình một tháng. Đã trị trên 3 vạn ca, theo 1000 ca được thống kê: kết quả tốt 803 ca, tiến bộ 141 ca, không kết quả 56 ca, phần lớn trong 1 – 2 liệu trình có kết quả ( Lưu bá Linh, Phân tích lâm sàng 1.000 ca viêm thoái hóa cột sống, Tạp chí Trung y Liêu ninh 1982,3:40).

8.Trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh: dùng Lục vị địa hoàng gồm: Thục địa, Sơn thù, sơn dược, trạch tả, Phục linh, Đơn bì theo tỷ lệ 8:4:4:3:3:3, tán mịn, luyện mật làm hoàn. Mật, thuốc tỷ lệ mỗi thứ 1/2, mỗi hoàn 10g, mỗi lần uống 1 -2 hoàn, ngày uống 1 – 3 lần liên tục trong 12 năm. Đã trị 46 ca nghi ung thư thực quản và tế bào thực quản tăng sinh, kết quả ung thư hóa 1 ca, ổn định 4 ca, tiến bộ tốt 41 ca. Đối với tế bào thượng bì thực quản tăng sinh, tỷ lệ tiến bộ tốt 89,1% ( Bệnh viện Ung thư tỉnh Hà bắc: Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị tế bào thượng bì thực quản tăng sinh bằng Lục vị Địa hoàng hoàn, Tạp chí Tân y dược học 1977,7:15).

Liều lượng thường dùng và chú ý lúc dùng:

Liều: 10 – 30g, thuốc sắc, nấu cao, hoàn tán.
Chú ý:

Thục địa tính nê trệ cùng dùng với Trần bì, Sa nhân để dễ tiêu hóa hấp thu.
Theo kinh nghiệm cổ truyền: Thục địa sao thành than để cầm máu.
Thục địa ngâm rượu vừa có tác dụng bổ huyết vừa hoạt huyết.
Trường hợp tỳ vị hư hàn, tiêu chảy, ăn kém hay đầy bụng, lúc cần nên phối hợp thuốc kiện tỳ hành khí.

hanh-nhan

Hạnh nhân

1. Hạnh nhân giúp giảm bớt lượng Cholesterol có hại trong cơ thể

Trong hạnh nhân có chứa nhiều chất dinh dưỡng rất có lợi cho hệ tim mạch như: Magie, Vitamin E, chất xơ .v.v. Theo thống kê, 1 Ounce hạnh nhân sẽ cung cấp 1/4 lượng Magiê cơ thể cần hàng ngày, 70% lượng Vitamin E, 3,3 gram chất xơ. Ngoài ra hạnh nhân có chứa chất béo không bão hòa đơn, là chất béo tốt. Các chất này giúp máu lưu thông khắp cơ thể, giảm triệu chứng bệnh tim mạch, huyết áp, tăng sức đề kháng

hạnh nhân

hạnh nhân

Chất xơ có trong hạt hạnh nhân giúp cải thiện hệ tiêu hóa và cân bằng cơ thể. Những chất này cũng là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu cho các bà bầu và sự phát triển của thai nhi.

2.  Hạt hạnh nhân giúp cải thiện trí tuệ

Hạnh nhân có chứa Phenylalanine, một chất hỗ trợ rất tốt trong việc phát triển các chức năng nhận thức. Ăn một nắm hạt hạnh nhân mỗi ngày giúp cải thiện trí nhớ, tinh thần sảng khoái, giảm Stress

3. Hạnh nhân giúp cải thiên da và tóc

Ăn hạt hạnh nhân hàng ngày cũng có thể giúp cải thiện làn da. hỗ trợ ngăn ngừa mụn đầu đen, mụn nhọt, da khô, và thậm chí cả nếp nhăn sớm. Một liệu pháp massage mặt với dầu hạnh nhân có thể giúp làm da sáng bóng, căng mịn, mềm mại. Ngoài ra, vitamin E có trong hạnh nhân cũng có thể giúp đóng góp cho tóc sáng bóng, mượt mà. Dầu Hạnh Nhân thậm chí có thể giúp chữa trị gàu.

Cách sử dụng:

Hạt hạnh nhân có thể ăn liền, làm bánh, xay và rắc lên salát, làm nhân sôcôla, ăn với sữa tuơi, uống trà, cà fê v.v…

Cách bảo quản:
Bảo quản nơi thoáng mát khô ráo, để trong lọ đựng kín sau mỗi lần dùng để đảm bảo hạnh nhân được giòn ngon hơn.

Bán đường phèn

Bán đường phèn Quảng Ngãi giá 30 nghìn/kg

Quý khách có nhu cầu xin liên hệ:

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978.996.997

Tên thuốc: Đường phèn

Đường phèn

Đường phèn

Đường phèn còn có tên khác là băng đường. Tên khoa học là Saccharose (sucrose). Thành phần hóa học: chủ yếu là saccharose, có thể phân giải thành glucose và fructose.

Theo Đông y, đường phèn vị ngọt, tính bình; vào kinh tỳ và phế. Công năng chủ trị: bổ trung ích khí, hoà vị, nhuận phế, chỉ khái, trừ đàm. Dùng làm gia vị, khai vị trợ tiêu hoá. Dùng cho các trường hợp: viêm khí phế quản ho khan ít đờm, đau rát họng, khí huyết hư, chóng mặt, đau đầu. Y học phương Đông cho rằng, đường phèn có tác dụng bổ dưỡng tốt hơn đường trắng nên dùng đường phèn bào chế các dạng cao bổ dưỡng như ngân nhĩ, long nhãn. Đường phèn tuy vị rất ngọt nhưng dược tính bình hòa nên hạn chế được tác dụng lưu thấp sinh đàm hoá nhiệt. Đường phèn giúp món ăn có vị thanh thơm ngon hơn; giúp cho các món chè ngọt mát hơn. Một số món ăn dùng đường phèn làm gia vị tạo nên một hương vị đặc biệt.

Một số thực đơn chữa bệnh có đường phèn:

- Cao long nhãn đường phèn: đường phèn 100g, long nhãn 100g, hầm cho chín nhuyễn thành cao. Mỗi ngày ăn 20g. Dùng cho các trường hợp cơ thể suy nhược, mệt mỏi, chóng mặt, đau đầu, có tác dụng bổ khí dưỡng huyết.

- Chè bí đao đường phèn: bí đao 1 quả nhỏ, gọt vỏ, bỏ ruột, thái lát; đường phèn liều lượng thích hợp khuấy đều, thêm chút nước, đun kỹ thành dạng chè, súp. Cho ăn thường ngày. Dùng cho trẻ em ho suyễn có sốt nóng (nhiệt suyễn).

- Lê ướp đường phèn:

lê 1 quả, đường phèn 15g. Lê gọt vỏ mỏng, bỏ ruột thái lát, chưng tan đường, cho ăn. Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản, ho khan đờm dính.

-  Ô mai ướp đường phèn: ô mai 5 quả, đường phèn 20g. Đem chưng đường với ô mai chín nhuyễn. Cho ăn dần trong ngày. Dùng cho các trường hợp sau viêm nhiễm sốt nóng dài ngày, miệng họng khô, khát nước, chán ăn.

- Yến sào hầm đường phèn:

yến sào (tổ chim yến) 4 – 6g, đường phèn 15g. Yến  ngâm mềm, thái lát, cho đường phèn và thêm ít nước vừa đủ hầm cách thủy. Ngày dùng 1 lần, một đợt 2 – 3 tuần. Dùng cho các trường hợp lao phổi khái huyết, thuốc có tác dụng bình bổ phế vị.

- Chữa ho ở trẻ em:cánh hoa hồng bạch 4g, đường phèn 4g. Hoa hồng thái chỉ cho vào chén, thêm đường phèn và ít nước; cho hấp trong nồi cơm. Cho ăn và uống nước trong ngày.

Yhoccotruyen.vn

tâm sen

Tâm sen khô

Tên thuốc: Tâm sen khô

Giá bán: 22.000  VND/lạng

Giá thị trường: 40.000 VND/lạng

Quý khách có nhu cầu xin liên hệ

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Đinh Văn Định

Xuất xứ: Hồ Tây – Hà Nội

Tâm sen là mầm màu lục sẫm ở phần trong của quả sen, tên thuốc trong y học cổ truyền là liên tâm. Vị đắng, không độc, tính hàn, vào kinh tâm có tác dụng an thần, thanh tâm, điều nhiệt, chữa mất ngủ, tâm phiền (hâm hấp, sốt khó chịu, bứt rứt, khát nước, thổ huyết). Liều dùng hàng ngày: 4-8g dưới dạng thuốc sắc, hãm hoặc hoàn tán. Thường phối hợp với các vị thuốc khác theo những công thức sau:

tâm sen

tâm sen

- Chè an thần gây ngủ: Tâm sen 5g, lá vông 20g, táo nhân 10g, hoa nhài tươi 10g. Tâm sen sao thơm; táo nhân sao đen, đập dập; lá vông sấy khô, tán bột. Tất cả trộn đều, hãm với 1 lít nước, cho hoa nhài vào khi nước thuốc còn ấm, rồi uống làm nhiều lần trong ngày.

- Chữa mất ngủ do nóng trong, tiểu ít: Tâm sen 8g, cam thảo 5 tán bột, hãm với nước sôi uống trong ngày.

- Chữa khó ngủ, tâm phiền, hồi hộp, lo âu: Tâm sen 8g, hạt muỗng sao, mạch môn, bá tử nhân, ngưu tất, dành dành, sinh địa, đậu đen, mỗi thứ 16g; hoài sơn, đại táo, mỗi thứ 10g, cam thảo 6g. Tất cả phơi khô, sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

Hoặc chỉ dùng tâm sen và hạt muồng sao cũng được. Có thể hãm uống. Kiêng cà phê, nước chè đặc.

- Chữa suy nhược cơ thể ở người bị viêm phế quản mạn tính, lao phổi: Tâm sen 8g, ý dĩ, đan bì, sinh địa, bạch thược, đẳng sâm, mỗi vị 12g. Quy bản, mạch môn, ngũ vị tử mỗi vị 10g. Trần bì, chích cam thảo mỗi vị 6g. Đại táo 4 quả. Tất cả sắc với 400ml nước còn 100ml, uống làm hai lần trong ngày.

- Chữa ù tai, lưng đau, nước tiểu vàng, di tinh, mộng tinh: Tâm sen 8g, đậu đen 20g, thục địa 20g, khiếm thực 16g, hạt sen 16g, quả dành dành sao 12g, hạt hòe 10g. Sắc uống ngày một thang.

- Hỗ trợ điều trị đái tháo đường: Tâm sen 8g, thạch cao 20g, sa sâm, thiên môn, mạch môn, hoài sơn, bạch biển đậu, ý dĩ, mỗi vị 12g. Sắc uống trong ngày.

Tâm sen còn được phối hợp với aminazin trong điều trị chứng tâm thần phân liệt để làm giảm độc tính của aminazin.

DS. Hữu bảo

cháo chân chó

Chân chó giúp lợi sữa

Thiếu sữa (hay không có sữa sau sinh) do nhiều nguyên nhân khác nhau (như tắc tia sữa hoặc do chính khí, huyết người mẹ quá hư suy hoặc do kinh can bị uất trệ mà không sản sinh được sữa; có các yếu tố ảnh hưởng tới quá trình tạo sữa…).

Đông y gọi là “khuyết nhũ”, “nhũ chấp bất túc”… Dưới đây là cách làm món cháo chân chó lợi sữa:

cháo chân chó

Nguyên liệu

1-2 cái chân chó đen; 100-150g gạo nếp; 20-30g lá đinh lăng.

Cháo chân chó thích hợp với những bệnh nhân sau sinh khí huyết suy nhược, mất sữa, thiếu sữa…
Cháo chân chó thích hợp với những bệnh nhân sau sinh khí huyết suy nhược, mất sữa, thiếu sữa…

Chế biến

Chân chó làm sạch, để ráo nước, đem thui vàng khía theo chiều dọc; lá đinh lăng, gạo nếp đem vo, rửa sạch.

Cho lá đinh lăng vào nồi, đổ 500 – 600ml nước, đun sôi, rồi đun nhỏ lửa trong 10-15 phút. Sau đó gạn lấy nước trong, bỏ bã, cho gạo và chân chó vào đun nhỏ lửa tới khi chín nhừ, nêm gia vị đủ dùng.

Ăn ấm trong ngày, ăn liên tục tới khi có sữa và thỉnh thoảng ăn nhắc lại.

Lợi ích

Bài thuốc có tác dụng thanh can, ích vị, khỏe tỳ, cường thận, bồi bổ khí huyết, thông mạch lợi sữa, tiêu viêm… Thích dụng với những bệnh nhân sau sinh khí huyết suy nhược, mất sữa, thiếu sữa, tắc tia sữa, viêm tuyến vú, ăn uống khó tiêu, máu hôi kéo dài…

Theo Đông y, thịt chó vị mặn, tính ôn có tác dụng bổ trung, ích khí, ôn thận trợ dương, bổ phế khí, cố thận khí, ích tinh tủy, mạnh tỳ, vị, tăng khí lực, tốt cho những người cơ thể suy nhược, thận dương hư, chính khí suy yếu, thông mạch, lợi sữa, tiêu viêm… Lá đinh lăng vị nhạt, hơi đắng, tính bình; có tác dụng bổ 5 tạng, giải độc, bổ huyết, tăng sữa, tiêu thực, tiêu sưng viêm. Đồng thời giúp cơ thể phụ nữ tăng sức đề kháng, kích thích tử cung co bóp, tống đẩy huyết hôi sau đẻ… Gạo nếp vị ngọt, tính ấm, có tác dụng bổ tỳ vị, chống hư tổn, thông mạch, lợi sữa.

Ba vị thuốc trên kết hợp với nhau có tác dụng tư bổ can thận, ích tỳ vị, bổ dưỡng huyết, kích thích tăng tiết sữa. Bởi theo y lý y học cổ truyền, đầu vú thuộc can còn bầu vú thuộc vị, nên bài thuốc này công năng chính là bổ vào can và vị, sẽ kích thích khai mở được dòng sữa.

BS Nguyễn Thị Thúy Nga

Bán lá sen giảm béo

Tên thuốc: lá sen khô Hồ Tây tự nhiên – Hà Nội

Giá bán: 50.000  VND/kg lá khô

Giá thị trường: 80.000 VND/kg lá khô

Quý khách có nhu cầu xin liên hệ

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Đinh Văn Định

Xuất xứ: Hồ Tây – Hà Nội

lá sen Hồ Tây
lá sen Hồ Tây
lá sen Hồ Tây

Theo Đông y truyền thống, lá sen có vị đắng chát (khổ sáp) tính bình. Vào 3 kinh tâm, can và tỳ. Có tác dụng thanh thử, lợi thấp, thăng phát thanh dương và chỉ huyết (cầm máu). Chủ trị thử thấp tiết tả (tiêu chảy do nóng ẩm mùa hè), huyễn vận (chóng mặt hoa mắt), phù thũng, thổ huyết, nục huyết (chảy máu mũi), băng lậu, tiện huyết, sản hậu huyết vận (choáng váng sau khi sinh)…

Thời xưa, lá sen tươi là vị thuốc rất thông dụng trong dân gian, dùng để chữa trị các chứng bệnh do thử thấp gây nên trong những tháng hè như: cảm nắng, say nắng, đau bụng tiêu chảy… Còn lá sen khô, hoặc đã thiêu tồn tính, dùng để chữa các chứng xuất huyết.

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, ngoài những tác dụng mà người xưa đã phát hiện, lá sen còn có tác dụng giảm béo và chống xơ vữa động mạch, do trong lá có nhiều loại alkaloids và flavonoid đặc biệt; ngoài ra còn có tác dụng giải độc nấm. Do đó, trên lâm sàng hiện nay, lá sen còn được sử dụng để phòng ngừa và chữa trị béo phì, phòng trị cao huyết áp, cao mỡ máu, xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành tim và viêm túi mật. Theo các chuyên gia, những người cao tuổi cơ thể đã suy yếu, động mạch não đã bị xơ cứng, hoặc từng bị liệt nửa người do tai biến mạch máu não, nên thường xuyên sử dụng lá sen.

Những cách cụ thể dùng lá sen phòng bệnh

Thanh thử trừ thấp, chống xuất huyết: Kinh nghiệm thực tế của Đông y truyền thống cho thấy, nhờ tác dụng thanh nhiệt giải thử (thanh trừ hỏa nhiệt trong mùa hạ) và sinh tân (tăng thể dịch) chỉ khát (chống khát) lá sen được dùng trong những tháng hè, để phòng ngừa và chữa trị các chứng bệnh do nắng nóng gây nên. Cụ thể, có thể dùng lá sen theo những cách sau:

Cháo lá sen (hà diệp chúc): dùng lá sen tươi 1 tàu, gạo tẻ 50g. Gạo vo sạch, nấu cháo theo cách thông thường. Lá sen rửa sạch, khi cháo sắp chín lấy lá sen úp lên trên mặt cháo; tiếp tục nấu nhỏ lửa một lúc, đến khi thấy cháo có màu lục nhạt là được. Chia ra ăn trong ngày, có thể cho thêm chút đường trắng.

Tác dụng: loại cháo này có tác dụng thanh thử lợi thấp, thăng dương kiện tỳ. Chủ trị “thử khí khốn tỳ” (nóng ẩm mùa hạ gây tổn thương chức năng tiêu hóa); “Dương khí bất thăng” dẫn tới tình trạng vùng thượng vị đầy tức kém ăn, người mệt mỏi, chân tay bải hoải.

Thanh lạc ẩm: lá sen tươi 6g (dùng phần rìa lá; kim ngân hoa 6g, tây qua thúy y (vỏ xanh dưa hấu) 6g, ty qua bì (vỏ trái mướp) 6g, búp tre tươi 6g. Cho vào nồi, đổ ngập nước, sắc còn 2 bát; chia 2 lần uống trong ngày.

Tác dụng: giải thử (trừ nóng mùa hè), thanh phế (mát phổi). Dùng trong trường hợp sau khi bị cảm nắng đã chữa khỏi, nhưng vẫn còn đau đầu, ho khan, mắt hoa nhìn không rõ.

Hà diệp hồng táo thang: dùng lá sen tươi 20g (cắt nhỏ), hồng táo (táo tàu) 5 trái, sắc lấy uống, chia ra uống từng ít một như uống trà.

Tác dụng: thanh thử, ích khí, thoái nhiệt. Dùng chữa trẻ nhỏ và người cao tuổi sốt nóng nhẹ dai dẳng trong ngày hè.

Song hà tiên: lá sen 7 tàu (bỏ phần rìa và chóp), ngó sen 7 cái. Hai thứ giã nát, thêm nước và mật ong lượng thích hợp, sắc lấy nước; chia ra 2 – 3 lần uống trong ngày, uống ấm (nếu nguội cần hâm lại).

Tác dụng: thanh nhiệt lương huyết; dùng chữa thổ huyết do xuất huyết ở đường tiêu hóa trên, tiêu phân đen.

Giảm béo, phòng trị bệnh tim mạch: Trà lá sen (độc vị lá sen): dùng lá sen khô 10g (tươi 30g), xé nhỏ, nấu nước uống thay trà trong ngày, liên tục 2 – 3 tháng. Có tác dụng hạ mỡ máu và chống béo phì rõ ràng.

Trà táo mèo lá sen (sơn tra hà diệp trà): sơn tra (hoặc táo mèo) 15g (đã thái lát, phơi khô), hà diệp (lá sen) 10g khô (hay 20g tươi), thái nhỏ. Hãm nước sôi, uống thay trà trong ngày.

Tác dụng: sơn tra có tác dụng xúc tiến tiêu hóa, chống tích trệ, hạ cholesterol máu và tăng lưu lượng máu trong động mạch vành tim; còn có tác dụng bảo vệ gan. Lá sen phối hợp với sơn tra thành loại trà có hương vị đặc biệt, có tác dụng phòng bệnh tim mạch, điều hòa chuyển hóa mỡ và giảm béo rõ ràng. Đồng thời còn có tác dụng xúc tiến tiêu hóa, chống đầy bụng, giúp ăn ngon miệng trong những ngày nắng nóng.

Cháo lá sen: lá sen 2 tàu, rửa sạch, sắc lấy nước, cho 50 – 100g gạo, thêm chút đường phèn, nấu cháo ăn. Tác dụng: lợi thủy tiêu mỡ, giảm thiểu sự ngưng tập tiểu cầu, cải thiện tuần hoàn máu, sử dụng thường xuyên có khả năng phòng ngừa tăng huyết áp và tai biến mạch máu não. Rất thích hợp với người cao tuổi.

BS Nguyễn Thị Thúy Nga

Nấm linh chi Hàn Quốc giảm béo 500 nghìn/kg

bé tăng cân

Bảng cân nặng của trẻ

Bảng chuẩn tăng trưởng của trẻ em trên toàn thế giới (áp dụng cho cả trẻ em Việt Nam), cân nặng của bé giảm đi nhưng chiều cao lại cao hơn chuẩn cũ 2cm.

bé tăng cân

bé tăng cân

Trong đó trẻ 1 tuổi chỉ cần nặng 8,9k thay vì 9,5kg (bé gái) hoặc 9,6kg thay vì 10,5kg (bé trai). Tuy nhiên, khi bước vào độ tuổi lên 2, chiều cao theo chuẩn mới lại cao hơn chuẩn cũ khoảng 2cm.

Trẻ gái:

Tuổi

Bình thường

Suy dinh dưỡng

Thừa cân

0

3,2 kg – 49,1 cm

2,4 kg – 45,4 cm

4,2 kg

1 tháng

4,2 kg – 53,7 cm

3, 2 kg – 49,8 cm

5,5 kg

3 tháng

5,8 kg – 57,1 cm

4, 5 kg – 55,6 cm

7,5 kg

6 tháng

7,3 kg – 65,7 cm

5,7 kg – 61,2 cm

9,3 kg

12 tháng

8,9 kg – 74 cm

7 kg – 68,9 cm

11,5 kg

18 tháng

10,2 kg – 80,7 cm

8,1 kg – 74,9 cm

13,2 kg

2 tuổi

11,5 kg – 86,4 cm

9 kg – 80 cm

14,8 kg

3 tuổi

13,9 kg – 95,1 cm

10,8 kg – 87,4 cm

18,1 kg

4 tuổi

16,1 kg – 102,7 cm

12,3 kg – 94,1 cm

21,5 kg

5 tuổi

18,2 kg – 109,4 cm

13,7 kg – 99,9 cm

24,9 kg

Trẻ trai:

Tuổi

Trung bình

Suy dinh dưỡng

Thừa cân

0

3,3 kg- 49,9 cm

2,4 kg – 46,1 cm

4,4 kg

1 tháng

4,5 kg – 54,7 cm

3,4 kg – 50,8 cm

5,8 kg

3 tháng

6,4 kg – 58,4 cm

5 kg -57,3 cm

8 kg

6 tháng

7,9 kg – 67,6 cm

6,4 kg – 63,3 cm

9,8 kg

12 tháng

9,6 kg – 75,7 cm

7,7 kg -71,0 cm

12 kg

18 tháng

10,9 kg – 82,3 cm

8,8 kg -76,9 cm

13,7 kg

2 tuổi

12,2 kg – 87,8 cm

9,7 kg – 81,7 cm

15,3 kg

3 tuổi

14,3 kg – 96,1 cm

11,3 kg – 88,7 cm

18,3 kg

4 tuổi

16,3 kg – 103,3 cm

12,7 kg – 94,9 cm

21,2 kg

5 tuổi

18,3 kg – 110 cm

14,1 kg -100,7 cm

24,2 kg

Theo Khảo sát mới nhất của Hội Nhi khoa VN, hiện nay đã có một bộ phận trẻ em Việt Nam đạt được mức chuẩn tăng trưởng này (tập chung chủ yếu ở các khu vực thành thị). Một bộ phận trẻ em thành phố lại ăn quá thừa dinh dưỡng do ăn nhiều thịt, chất béo. Hiện tình trạng béo phì ở trẻ em ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tăng cao.

Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ trẻ (chủ yếu ở khu vực nông thôn) vẫn còi cọc, suy dinh dưỡng do thiếu chất như: dầu, mỡ, vitamin các loại.

Nếu những đứa trẻ không được sớm bổ sung dinh dưỡng sẽ rất dễ dẫn đến hiện tượng thấp bé, nhẹ cân khi trưởng thành, ảnh hưởng đến sự phát triển.

BS Nguyễn Thị Thoa

 

Con tăng cân bình thường là niềm vui của bố mẹ

Nguyên nhân bé chậm tăng cân

Có nhiều nguyên nhân khiến bé chậm tăng cân, như: chế độ dinh dưỡng, tiền sử sức khỏe, các hoạt động thể chất hay rối nhiễu về tinh thần. Nhìn chung, nếu bé hầu như không (hoặc chậm) tăng cân thì có thể do bé ăn uống không đủ chất, cơ thể không hấp thu và sử dụng chất dinh dưỡng đúng cách. Vậy chúng ta cần làm gì khi trẻ chậm tăng cân?

Con tăng cân bình thường là niềm vui của bố mẹ

Con tăng cân bình thường là niềm vui của bố mẹ

Nguyên nhân khiến bé không đủ dinh dưỡng

Bé trở nên mệt mỏi hoặc buồn ngủ trước khi bé nhận đủ sữa mẹ.

Bé khó khăn khi mút vú mẹ nên bé cũng không thể “ti mẹ” đến mức no. Cũng có thể do mẹ không đủ sữa hoặc do sữa không chảy xuống.

Bé chỉ “ti” được lớp sữa đầu của mẹ là đã chán, không muốn “măm” nữa. Sữa mẹ được chia ra làm 2 loại: sữa đầu và sữa sau. Sữa đầu là loại sữa chảy ra rất nhanh ngay khi bé vừa “ti mẹ”. Sau đó, dưới sự kích thích bằng việc bé mút sữa, cơ thể mẹ sản sinh ra hoóc-môn oxytocin, kích thích sữa chảy ra tiếp. Sữa này gọi là sữa sau. Sữa sau nhiều calo hơn sữa trước. Nếu mẹ bị stress hoặc bị đau, mắc chứng bệnh mạn tính thì quá trình tiết sữa sau sẽ bị cản trở; do đó, bé sẽ không nhận được lớp sữa có chất lượng tốt.

Một số người mẹ nuôi con theo lịch trình cứng nhắc (tức là tuân thủ một cách máy móc mấy giờ cho bé “ăn sữa”) mà không dựa trên nhu cầu của bé (dù bé đang có dấu hiệu bị đói). Vì thế, bé thường nhận được ít dinh dưỡng hơn nhu cầu thực. Để tránh điều này, cần cho bé “ti mẹ” ngay khi bé cần.

Những lý do khác khiến bé kém bú: bé bị ốm, mắc các vấn đề về đường ruột như tiêu chảy, không dung nạp được sữa; một số trường hợp là do bé mắc chứng bệnh về tim mạch, chứng xơ hóa…

Dấu hiệu nhận biết bé đã bú đủ

Dưới 6 tháng tuổi, dấu hiệu bú no ở bé như sau:

- Bé làm ướt 6 – 8 chiếc tã mỗi ngày.

- Trong tháng đầu tiên, bé đi tiêu nhiều lần mỗi ngày. Sau một tháng tuổi, tần suất đi tiêu ở bé giảm đi.

- Khi bạn cho bé “ti”, bạn có thể nhìn thấy chuyển động quai hàm ở bé và nghe thấy tiếng bé mút sữa.

- Bầu ngực của mẹ trở nên mềm hơn sau khi cho bé bú.

Lưu ý: nếu bé có xu hướng ngủ khi bú, bạn thử cù nhẹ vào chân, đánh thức để bé tiếp tục “ti” mẹ. Nếu bé chưa “ti” đủ hai bên ngực mẹ mà đã ngủ, bạn nên dùng tay vắt sữa ở một bên ngực đang căng. Cách này kích thích sự sản xuất sữa mẹ cho bé dùng vào lần sau.

Làm gì khi bé chậm tăng cân?

Nên trao đổi với bác sĩ về tình trạng chậm tăng cân ở bé. Chỉ khi tìm ra nguyên nhân chính xác, bác sĩ sẽ chỉ định việc dùng thuốc điều trị và tăng cường lượng calo nạp vào cơ thể bé. Có thể cho bé dùng thêm sữa ngoài bên cạnh sữa mẹ hoặc tăng cường dinh dưỡng nếu bé đã bước vào tuổi ăn dặm. Sữa và những sản phẩm từ sữa, bột ngũ cốc, chất đạm thông qua dầu ăn, hoa quả tươi… là những gợi ý để bé nạp đủ dinh dưỡng, giúp tăng cân.

Cũng có trường hợp bé vẫn chậm tăng cân trong khi cha mẹ đã thử đủ mọi cách. Cha mẹ cũng không nên quá lo vì cân nặng còn phụ thuộc vào quá trình hấp thu dinh dưỡng ở mỗi bé. Đến một giai đoạn nào đó, nhiều bé sẽ phát triển nhanh, theo kịp đà tăng trưởng với các bé cùng tuổi.

BS Lê Thị Thoa