Monthly Archives: July 2013

Phấn hoa

Bán phấn hoa

Giá bán: 100 nghìn/Hộp 250 Gram

Liên hệ: Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997

Tên thuốc:Phấn hoa

Phấn hoa

Phấn hoa

Tác dụng của phấn hoa:Làm da, tốt cho hệ tiêu hóa

Gà hầm thuốc bắc

Thuốc bắc hầm gà

Giá bán: 10.000 VND/75 Gram

Liên hệ: Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997

Tên thuốc: Thuốc bắc hầm gà

Gà hầm thuốc bắc

gà hầm thuốc bắc

Thành phần: Đẳng sâm, đương quy, câu kỷ tử, thục địa, hoài sơn, ý dĩ, hạt sen, táo đen, táo đỏ

Tác dụng: Bổ khí, dưỡng huyết, kiện tỳ

Bột sắn dây

Bán bột sắn dây

Giá bán: 12.000 VND/100 Gram (12.000 vnd/kg)

Liên hệ: Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997

Tên thuốc: Bột sắn ta dây nguyên chât

Từ thời xa xưa, toàn bộ các bộ phận của cây sắn dây đều đã được sử dụng làm thuốc trong Ðông y. Thông dụng nhất là củ sắn dây (cát căn), bột (cát phấn) và hoa (cát hoa). Cát căn thuộc loại những vị thuốc cổ nhất, từng được đề cập trong Thần Nông bản thảo kinh – bộ sách thuốc đầu tiên của Ðông y học.

Bột sắn dây

Bột sắn dây

SẮN DÂY TRONG ÐÔNG Y CỔ TRUYỀN

Vị thuốc mang tên “cát căn” là rễ đã bóc vỏ ngoài, thái nhỏ, phơi hay sấy khô của cây sắn dây; còn gọi là “can cát”, “cam cát”, “phấn cát”, “cát ma nhự”, “cát tử căn”, “hoàng cát căn”, “cát điều căn”. Vị thuốc “cát phấn” được chế biến bằng cách giã hoặc xay nhỏ củ sắn dây, gạn lấy tinh bột, lọc đi lọc lại nhiều lần, phơi khô. Còn vị thuốc “cát hoa” bắt đầu được sử dụng muộn hơn, xuất hiện lần đầu trong Danh y biệt lục. Ngoài ra, Ðông y còn sử dụng cả lá (cát diệp), hạt (cát cốc) và dây sắn dây (cát man).

Theo quan niệm Ðông y cổ truyền: Cát căn có vị ngọt, cay, tính mát; vào 2 kinh tỳ và vị. Có tác dụng giải cơ thoái nhiệt, thấu phát ma chẩn, sinh tân chỉ khát, thăng dương chỉ tả. Dùng chữa sốt, làm ra mồ hôi, sởi không mọc được, phiền táo khát nước, nhức đầu, kiết lỵ… Ngày dùng 8-20g dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với những vị thuốc khác. Cát phấn có vị ngọt, tính rất lạnh (đại hàn), vào kinh vị. Có tác dụng sinh tân chỉ khát, thanh nhiệt trừ phiền. Dùng chữa phiền nhiệt, miệng khát, nhiệt sang, hầu tý. Cát hoa có vị ngọt, hơi đắng, tính mát; vào kinh vị. Có tác dụng giải độc rượu. Dùng chữa uống rượu quá nhiều bị ngộ độc, phiền khát, phát sốt, chán ăn, nôn mửa ra chất chua, thổ huyết, đại tiện ra máu…

Một số ứng dụng của vị cát căn trong Ðông y cổ truyền và trong dân gian:

- Chữa cảm mạo, phát sốt, cổ gáy cứng đơ, sợ gió, không mồ hôi: Dùng Cát căn thang: Cát căn 8g, ma hoàng 5g, quế chi 4g, đại táo 5g, thược dược 4g, sinh khương 5g, cam thảo 4g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày (Những cây thuốc và vị thuốc VN).

- Cháo cát căn – Chữa trẻ nhỏ cảm phong nhiệt, nôn mửa, đau đầu, kinh sợ khóc thét: Cát căn 30g, giã nát, gạo tẻ 50g. Cát căn sắc với 2 bát nước lớn, đun cạn còn 1 bát, chắt lấy nước (bỏ bã) nấu cháo, thêm chút gừng sống và mật ong, cho trẻ ăn trong ngày (Thái bình thánh huệ phương).

- Chữa vùng ngực bụng nóng cồn cào, phiền táo, khát nước: Dùng bột sắn dây 120g, gạo tẻ 15g. Gạo tẻ ngâm nước một đêm, hôm sau chắt bỏ nước, trộn đều với bột sắn dây, nấu cháo ăn trong ngày (Thánh huệ phương).

- Chữa cảm nắng, sốt nóng, nhức đầu, khát nước, có mồ hôi, nóng ruột, nôn ọe: Dùng bột sắn dây 12g hòa đường uống; hoặc dùng cát căn 20g, đậu ván (sao)12g; giã giập, sắc nước uống trong ngày (Trồng hái và sử dụng cây thuốc).

- Chữa cảm sốt nóng, nôn ọe, khát nước, nhức đầu: Dùng cát căn, sài hồ, chi tử, mỗi thứ 15-20g, sắc nước uống trong ngày (Trồng hái và sử dụng cây thuốc).

- Chữa ngộ độc thức ăn, đại tiện ra máu do ăn phải những thức ăn nóng, độc: Dùng củ sắn dây tươi, ngó sen tươi, giã nát, vắt lấy 500ml nước cốt mỗi thứ, hòa đều, uống dần (Mai sư tập nghiệm phương).

- Chữa uống nhầm các thứ thuốc nóng hoặc quá mãnh liệt, dẫn đến viêm ruột, đau bụng đi ngoài tựa như kiết lỵ, cồn cào, buồn bực, nôn ọe: Dùng bột sắn dây quấy đường uống; hoặc dùng cát căn 30g, rau má 20g; giã nát, chế thêm nước, vắt lấy nước cốt uống trong ngày (Trồng hái và sử dụng cây thuốc).

- Chữa trẻ sơ sinh miệng mím chặt, sùi bọt mép, không bú được: Lấy một đoạn dây sắn dây, đốt thành than, nghiền mịn. Lấy khoảng 3-5g bột hòa với sữa mẹ, nhỏ vào miệng trẻ. Làm như vậy vài lần trẻ sẽ mở miệng và bú được (Thánh huệ phương).

- Phụ nữ thiếu sữa cho con bú: Lấy dây sắn dây đốt thành than, nghiền mịn, mỗi lần uống 6g cùng với rượu (Vệ sinh giản dịch phương).

- Chữa ngực nóng, thổ huyết không ngừng: Dùng củ sắn dây tươi, giã nát vắt lấy 500ml uống (Quảng lợi phương).

- Chữa mũi chảy máu suốt ngày không ngừng, tâm thần phiền muộn: Dùng củ sắn dây tươi, giã nát vắt lấy nước cốt, uống mỗi lần một chén con (Thánh huệ phương).

- Chữa say rượu bất tỉnh: Củ sắn dây tươi giã nát, vắt lấy 1 lít nước cốt, cho uống dần đến khi tỉnh lại (Thiên kim phương).

- Chữa ngộ độc rượu: Uống quá nhiều rượu, tỳ vị bị thương tổn, khạc hoặc nôn ra máu, người phát sốt, phiền khát, tiểu tiện đỏ: Dùng hoa sắn dây 30g, hoàng liên 4g, hoạt thạch 30g (thủy phi), bột cam thảo 15g. Tất cả tán thành bột mịn, trộn với nước hoàn thành viên, mỗi lần uống 3g, chiêu thuốc bằng nước mát (Ðiền Nam bản thảo – cát hoa thanh nhiệt hoàn). “Thủy phi” là thêm nước vào vị thuốc cùng tán, hoặc tán xong cho vào nước khuấy lên để bột thuốc lắng xuống; thường áp dụng khi bào chế hoạt thạch, chu sa, thanh đại.

- Lá sắn dây chữa rắn cắn: Giã lá sắn dây tươi vắt lấy nước uống, bã đắp lên nơi rắn cắn (Những cây thuốc và vị thuốc VN).

- Lá sắn dây đắp vết thương chảy nhiều máu: Trường hợp bị thương do đao kiếm, leo núi bị ngã máu chảy nhiều, dùng lá sắn dây tươi giã nát đắp vào vết thương (Bản thảo đồ kinh).

- Bột rắc chống ngứa ở những chỗ mồ hôi ẩm ướt: Bột sắn dây 5g, thiên hoa phấn 5g, hoạt thạch 20g, trộn đều rắc lên những nơi ẩm ngứa (Những cây thuốc và vị thuốc VN).

- Trẻ nhỏ cảm phong nhiệt, nôn mửa, đau đầu, kinh sợ khóc thét: Cát căn 30 g giã nát, gạo tẻ 50 g. Cát căn sắc với 2 bát nước lớn, đun cạn còn 1 bát, chắt lấy nước nấu cháo với gạo, thêm chút gừng sống và mật ong, cho trẻ ăn trong ngày.

- Cảm nắng, sốt nóng, nhức đầu, khát nước, có mồ hôi, nóng ruột, nôn ọe: Bột sắn dây 12 g hòa đường uống; hoặc dùng cát căn 20 g, đậu ván (sao)12 g, giã giập, sắc nước uống trong ngày.

- Cảm sốt nóng, nôn ọe, khát nước, nhức đầu: Cát căn, sài hồ, chi tử, mỗi thứ 15-20 g, sắc nước uống trong ngày.

- Vùng ngực bụng nóng cồn cào, khát nước: Bột sắn dây 120 g, gạo tẻ 15 g. Gạo tẻ ngâm nước một đêm, chắt bỏ nước, trộn đều với bột sắn dây, nấu cháo ăn trong ngày.

- Ngộ độc thức ăn, đại tiện ra máu do ăn phải đồ nóng, độc: Củ sắn dây tươi, ngó sen tươi 2 thứ giã nát, vắt lấy 500 ml nước cốt mỗi thứ, hòa đều, uống dần.

Yhoccotruyen.vn

kha tử

Giá bán quả kha tử

Giá bán quả kha tử: 10 nghìn/lạng

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Anh Định

Tên thuốc: Kha tử

kha tử
kha tử

Vỏ rât cứng, khi ngậm nước tiết ra có vị đắng, chát, hơi khó nuốt là đặc trưng của kha tử-một vị thuốc chữa ho, viêm họng, khản tiếng vô cùng hữu hiệu.
Quả kha tử còn được gọi là chiêu liêu, kha lê, tên khoa học là Terminalia Chebula Retz, họ bàng (Combreataceae). Cây kha tử là một cây gỗ cao 15-20m. Lá mọc đối, cuống ngắn. Hoa màu trắng, có mùi thơm, mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá. Quả với lớp vỏ màu nâu nhạt, hình trứng (đường kính 2,5- 3cm), có 5 cạnh dọc, nhọn ở 2 đầu, trong chứa một hạt nhỏ cứng. Quả chín vào khoảng tháng 9, 10, 11, lấy đem sấy khô dùng làm thuốc.

Biệt dược chữa ho

Dân gian thường lấy quả kha tử đã sấy khô, chặt thành miếng nhỏ, bỏ hạt, vỏ giã dập rồi ngậm để chữa chứng đau cổ họng, khản tiếng. Ngậm trong 2-3 ngày bệnh sẽ khỏi. Cách khác là với 8g kha tử kết hợp với 6g cam thảo, 10g cát cánh, đem sắc lấy nước uống hàng ngày.

Những người thường xuyên phải sử dụng giọng nói như: ca sĩ, giáo viên… có thể dùng kha tử tán nhỏ nhào với mật ong rồi ngậm, tiếng sẽ thanh và hiện tượng khô cổ họng cũng sẽ hết. bởi trong kha tử có chứa chất vitamin chebutin, terchebin…Hàm lượng tamin chiếm tới 51,3 %. Trong tamin gồm có các acid như: galic, egalic, luteolic, chebulinic. Khi các chất này kết hợp với nhau, chúng sẽ tạo thành một thức kháng sinh diệt khuẩn mạnh hơn nhiều so với các chiết xuất riêng rẽ. Đồng thời, chất chebuin, terchebin rong kha tử còn có tác dụng trợ tim, chống ho, chống co thắt dạ dày…

Ngoài ra, theo Đông y, quả kha tử còn được sử dụng trong những trường hợp sau:

Tiêu chảy mạn tính

Dùng khoảng 5g kha tử (dạng bột), hoà với 10ml rượu và 100ml siro. Mỗi ngày uống ba lần, mỗi lần một thìa canh. Với trẻ em dùng khoảng 1/3 liều lượng của người lớn. Hoặc có thể lấy kha tử đem nướng chín, tách bỏ hạt, phần thịt đem xay (giã) thành bột mịn. Lấy bột khai tử (lượng 6g) hoà với nước cơm, uống ngày hai lần cho đến khi khỏi hẳn thì thôi.

Kiết lỵ kinh niên

Lấy 30g kha tử, 100g hoàng liên, 20 hạt nhục đậu khấu đã bo vỏ đem tán nhỏ thành bột mịn, trộn với hồ nặn thành viên nhỏ. Mỗi ngày uống 30 viên, chia làm hai lần. Hoặc kết hợp kha tử (6g) với đẳng sâm, bạch truật, đương quy (mỗi thứ 12g) và cam thảo, gừng, mộc hương (mỗi thứ 6g). Tất cả đem sắc với 400ml nước, uống làm hai lần mỗi ngày.

Ngộ độc thức ăn

Khi thức ăn nhiễm vi khuẩn gây ngộ độc, ta có thể dùng bài thuốc từ kha tử nướng chín bỏ hạt 8g, hoàng liên 5g, đem tán thành bột mịn. Hoà hỗn hợp này với nước đun sôi để nguội dùng uống ngày ba lần sẽ khỏi

Lưu ý: Những người bị ho do phế có thực nhiệt, hay tiêu chảy do cảm lạnh không nên dùng kha tử.

kha tử

Bán kha tử

Giá bán: 10 nghìn/lạng

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997

Tên thuốc: Kha tử

kha tử

kha tử

Vỏ rât cứng, khi ngậm nước tiết ra có vị đắng, chát, hơi khó nuốt là đặc trưng của kha tử-một vị thuốc chữa ho, viêm họng, khản tiếng vô cùng hữu hiệu.
Quả kha tử còn được gọi là chiêu liêu, kha lê, tên khoa học là Terminalia Chebula Retz, họ bàng (Combreataceae). Cây kha tử là một cây gỗ cao 15-20m. Lá mọc đối, cuống ngắn. Hoa màu trắng, có mùi thơm, mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá. Quả với lớp vỏ màu nâu nhạt, hình trứng (đường kính 2,5- 3cm), có 5 cạnh dọc, nhọn ở 2 đầu, trong chứa một hạt nhỏ cứng. Quả chín vào khoảng tháng 9, 10, 11, lấy đem sấy khô dùng làm thuốc.

Biệt dược chữa ho

Dân gian thường lấy quả kha tử đã sấy khô, chặt thành miếng nhỏ, bỏ hạt, vỏ giã dập rồi ngậm để chữa chứng đau cổ họng, khản tiếng. Ngậm trong 2-3 ngày bệnh sẽ khỏi. Cách khác là với 8g kha tử kết hợp với 6g cam thảo, 10g cát cánh, đem sắc lấy nước uống hàng ngày.

Những người thường xuyên phải sử dụng giọng nói như: ca sĩ, giáo viên… có thể dùng kha tử tán nhỏ nhào với mật ong rồi ngậm, tiếng sẽ thanh và hiện tượng khô cổ họng cũng sẽ hết. bởi trong kha tử có chứa chất vitamin chebutin, terchebin…Hàm lượng tamin chiếm tới 51,3 %. Trong tamin gồm có các acid như: galic, egalic, luteolic, chebulinic. Khi các chất này kết hợp với nhau, chúng sẽ tạo thành một thức kháng sinh diệt khuẩn mạnh hơn nhiều so với các chiết xuất riêng rẽ. Đồng thời, chất chebuin, terchebin rong kha tử còn có tác dụng trợ tim, chống ho, chống co thắt dạ dày…

Ngoài ra, theo Đông y, quả kha tử còn được sử dụng trong những trường hợp sau:

Tiêu chảy mạn tính

Dùng khoảng 5g kha tử (dạng bột), hoà với 10ml rượu và 100ml siro. Mỗi ngày uống ba lần, mỗi lần một thìa canh. Với trẻ em dùng khoảng 1/3 liều lượng của người lớn. Hoặc có thể lấy kha tử đem nướng chín, tách bỏ hạt, phần thịt đem xay (giã) thành bột mịn. Lấy bột khai tử (lượng 6g) hoà với nước cơm, uống ngày hai lần cho đến khi khỏi hẳn thì thôi.

Kiết lỵ kinh niên

Lấy 30g kha tử, 100g hoàng liên, 20 hạt nhục đậu khấu đã bo vỏ đem tán nhỏ thành bột mịn, trộn với hồ nặn thành viên nhỏ. Mỗi ngày uống 30 viên, chia làm hai lần. Hoặc kết hợp kha tử (6g) với đẳng sâm, bạch truật, đương quy (mỗi thứ 12g) và cam thảo, gừng, mộc hương (mỗi thứ 6g). Tất cả đem sắc với 400ml nước, uống làm hai lần mỗi ngày.

Ngộ độc thức ăn

Khi thức ăn nhiễm vi khuẩn gây ngộ độc, ta có thể dùng bài thuốc từ kha tử nướng chín bỏ hạt 8g, hoàng liên 5g, đem tán thành bột mịn. Hoà hỗn hợp này với nước đun sôi để nguội dùng uống ngày ba lần sẽ khỏi

Lưu ý: Những người bị ho do phế có thực nhiệt, hay tiêu chảy do cảm lạnh không nên dùng kha tử.

nấm đông cô Nhật Bản

Nấm đông cô

Giá bán: 400.000  VND/kg

Giá thị trường: 600.000 VND/kg

Liên hệ: Nhà thuốc Đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Mr Định

Tên thuốc: Nấm đông cô Nhật Bản (Nấm Nhật Bản)

Quy cách: Đường kính nấm từ 5 đến 8 cm

Nhà sản xuất: Trang trại nấm Nhật Bản

Xuất xứ: Nhật Bản (Japan)

nấm đông cô Nhật Bản
nấm đông cô Nhật Bản

Thông tin về nấm đông cô:

Ở Trung Quốc và Nhật Bản, nấm đông cô được dùng như một vị thuốc quý từ hàng nghìn năm nay do có tác dụng tăng cường khí lực, kích thích ăn uống, điều hòa khí huyết.

Người Trung Quốc gọi  là Dong-Gu (phiên âm tiếng Việt thành đông cô), người Nhật gọi Shiitake. Nấm này có tên khoa học là Lentinula Edodes, thuộc họ Pleurotaceae.

Nấm đông cô có dạng như cái ô, đường kính 4-10 cm, màu nâu nhạt, khi chín chuyển thành nâu sậm. Trên mặt nấm có những vảy nhỏ màu trắng. Thịt nấm màu trắng, cuống hình trụ. Nấm mọc ký sinh trên những cây có lá to và thay lá mỗi mùa như dẻ, sồi, phong. Loài thực vật này mọc hoang nhiều ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Ở Mỹ, nông dân trồng nấm hương tại các trang trại. Mỗi khúc gỗ có thể cho nấm ký sinh 3-7 năm.

Nấm đông cô  chứa khá nhiều đạm và đặc biệt giàu khoáng chất, vitamin, chẳng hạn như vitamin C, B, tiền vitamin D, canxi, Niacin, nhôm, sắt, magiê… Nó có khoảng 30 enzym và tất cả các acid amin tối cần cho cơ thể (tức là những acid amin mà cơ thể không tổng hợp được). Nấm cũng có một số alcool hữu cơ mà khi nấu chín, các alcool này biến đổi, tạo thành mùi thơm đặc biệt của nó.Vì Shiitake có chứa nhiều chất cần thiết cho cơ thể nên những người ăn chay nên dùng thường xuyên loại nấm này .

Cách nhận loại nấm: Mũ nấm lớn khoảng 5-20 cm; màu nâu vàng, nâu xám, nâu đậm, co hình cong; mũ và thân mọc chắc liền nhau . Dưới mũ: trắng nhạt, hơi vàng nâu, mọc tròn và có dạng răng cưa Thân: vàng nâu, mọc moc xéo qua một bên , hoặc ở trung tâm Thịt nấm: từ trắng đến có màu vàng lạt Mùa nấm: quanh năm Mùi vị: thơm, giống như hành Trồng nấm trên thân cây

Nấm đông cô được trồng trên thân cây . Người ta dùng các thân cây lớn khoảng từ 15 đến 25 cm (đường kính). Ðặc biệt các thân cây sồi rất thích hợp với giống nấm này. Nên dùng những thân cây còn tươi, sạch để tránh những loại nấm dại khác. Gieo mầm nấm Gieo lỗ: Dùng khoan, khoan vào thân cây những lỗ sâu khoảng 5 cm, khoảng cách từ 10 đến 15 cm. Ðường kính của lỗ khoan có thể từ 10 đến 20 mm. Sau đó người ta bỏ mầm nấm vào đó và lấy băng keo dán lại để tránh mầm bị khô đi. Sau khi mầm nảy rễ có thể tháo cái băng keo ra. Gieo vào đưòng cắt: Ðường cắt được cắt sâu vào giữa thân cây với khoảng cách 15 cm. Chiều rộng của đường cắt vào khoảng 10 mm. Mần được dặt vào đó và đường cắt cũng được dán lại bằng băng keo. Sau khi gieo mầm nấm người ta có thể dựng những thân cây này vào những chỗ mát trong vườn. Nhưng chỗ thuận tiện là những nơi rợp cớm như dưới bóng cây và đặc biệt ẩm thấp không có gió luồn.

Thân cây nên chôn xuống đất vào khoảng 30 cm để có thể hút nước lên tránh bị khô. Trong những lúc nóng khô nên dùng một túi nhựa trùm lại để tránh mất nước. Nếu quá khô có thể tưới thêm để rễ nấm đừng bị chết. Thời gian thu hoạch có thể kéo dài đến 5-6 năm tùy theo độ cứng bền của cây gỗ. Tổng số thu hoạch nấm thể từ 20 -30 % trọng lượng của cây gỗ tươi .

Tác dụng của nấm đông cô

1. Các nhà khoa học đã chiết xuất được chất lentinan và Lentinula Edodes mycelium (LEM) từ nấm đông cô  . Đây là 2 chất chính tạo nên tác dụng dược lý của loại nấm này. Một nghiên cứu tại Nhật cho thấy, những bệnh nhân ung thư đang hóa trị nếu dùng thêm Lentinan thì hiệu quả hóa trị sẽ tăng lên, khả năng sống sót cao hơn và sự tiến triển của ung thư sẽ bị kìm hãm. Vì vậy ở Nhật, Lentinan đã được chấp nhận như một liệu pháp phụ trợ trong tiến trình dùng hóa trị liệu.

2.Lentinan đã được chứng minh là có khả năng kích thích các tế bào của hệ miễn dịch (như tế bào lympho ở máu ngoại vi) làm tăng sức đề kháng. Nó cũng kích thích các “tế bào sát thủ tự nhiên” trong cơ thể để chúng tấn công những tế bào ung thư.

3.Theo một nghiên cứu khác, nấm đông cô chứa chất Eritadenin, có tác dụng làm hạ cholesterol bằng cách làm tăng sự thoái biến cholesterol trong gan. Loại nấm này còn làm giảm tác dụng tăng cholesterol của chất béo và giúp hạ huyết áp.

4. Các nhà khoa học Nhật cũng đã tiến hành những nghiên cứu về tác dụng chống virus của nấm đông cô. Kết quả là chất LEM trong loài thực vật này giúp tạo ra kháng thể chống virus viêm gan B. Trong số 40 bệnh nhân viêm gan B mạn tính đã được uống LEM 6 g/ngày trong 4 tháng, tất cả đều giảm triệu chứng viêm gan, có 15 người hết sạch virus B. Chất LEM còn làm chậm sự tiến triển của ung thư gan, bảo vệ tế bào gan.

Các thử nghiệm cũng cho thấy, chất Lentinan đơn độc không có tác dụng gì đối với HIV, nhưng nếu phối hợp với AZT thì tác dụng diệt virus tăng lên 24 lần so với dùng AZT đơn độc.

5. Lentinan còn có khả năng giúp những người bị lao phổi chống lại độc tố của vi khuẩn lao. Nếu sử dụng Lentinan 1 g/ngày, mỗi tuần 2 lần thì tỷ lệ opsonin trong máu rất cao, có thể ngăn chặn hoàn toàn độc tố của vi khuẩn lao trong cơ thể.

6. Ở Trung Quốc, nấm đông cô đã được sử dụng từ rất lâu đời để chữa một số bệnh như bí tiểu, phù thũng, ngộ độc do các loại nấm khác (dùng 90 g nấm khô nấu chín để ăn). Trẻ em bị sởi và đậu mùa có thể dùng 6 g nấm khô nấu chín và ăn ngày 2 lần.

7. Nấm đông cô còn được dùng làm thực phẩm và thuốc rất phổ biến tại Nhật. Theo y học cổ truyền của nước này, nó có tác dụng chống oxy hóa, giúp chống lão hóa tế bào, tăng cường sức lực, giảm mệt mỏi ở những người làm việc quá căng thẳng. Liều dùng tốt nhất là 6-16 g nấm khô hoặc 90 g nấm tươi.

nấm đông cô Nhật Bản

Giá bán nấm đông cô Nhật Bản

Giá bán: 400.000  VND/kg

Giá thị trường: 600.000 VND/kg

Liên hệ: Nhà thuốc Đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Mr Định

Tên thuốc: Nấm đông cô Nhật Bản (Nấm Nhật Bản)

Quy cách: Đường kính nấm từ 5 đến 8 cm

Nhà sản xuất: Trang trại nấm Nhật Bản

Xuất xứ: Nhật Bản (Japan)

nấm đông cô Nhật Bản
nấm đông cô Nhật Bản

Ở Trung Quốc và Nhật Bản, nấm đông cô được dùng như một vị thuốc quý từ hàng nghìn năm nay do có tác dụng tăng cường khí lực, kích thích ăn uống, điều hòa khí huyết.

Người Trung Quốc gọi  là Dong-Gu (phiên âm tiếng Việt thành đông cô), người Nhật gọi Shiitake. Nấm này có tên khoa học là Lentinula Edodes, thuộc họ Pleurotaceae.

Nấm đông cô có dạng như cái ô, đường kính 4-10 cm, màu nâu nhạt, khi chín chuyển thành nâu sậm. Trên mặt nấm có những vảy nhỏ màu trắng. Thịt nấm màu trắng, cuống hình trụ. Nấm mọc ký sinh trên những cây có lá to và thay lá mỗi mùa như dẻ, sồi, phong. Loài thực vật này mọc hoang nhiều ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Ở Mỹ, nông dân trồng nấm hương tại các trang trại. Mỗi khúc gỗ có thể cho nấm ký sinh 3-7 năm.

Nấm đông cô  chứa khá nhiều đạm và đặc biệt giàu khoáng chất, vitamin, chẳng hạn như vitamin C, B, tiền vitamin D, canxi, Niacin, nhôm, sắt, magiê… Nó có khoảng 30 enzym và tất cả các acid amin tối cần cho cơ thể (tức là những acid amin mà cơ thể không tổng hợp được). Nấm cũng có một số alcool hữu cơ mà khi nấu chín, các alcool này biến đổi, tạo thành mùi thơm đặc biệt của nó.Vì Shiitake có chứa nhiều chất cần thiết cho cơ thể nên những người ăn chay nên dùng thường xuyên loại nấm này .

Cách nhận loại nấm: Mũ nấm lớn khoảng 5-20 cm; màu nâu vàng, nâu xám, nâu đậm, co hình cong; mũ và thân mọc chắc liền nhau . Dưới mũ: trắng nhạt, hơi vàng nâu, mọc tròn và có dạng răng cưa Thân: vàng nâu, mọc moc xéo qua một bên , hoặc ở trung tâm Thịt nấm: từ trắng đến có màu vàng lạt Mùa nấm: quanh năm Mùi vị: thơm, giống như hành Trồng nấm trên thân cây

Nấm đông cô được trồng trên thân cây . Người ta dùng các thân cây lớn khoảng từ 15 đến 25 cm (đường kính). Ðặc biệt các thân cây sồi rất thích hợp với giống nấm này. Nên dùng những thân cây còn tươi, sạch để tránh những loại nấm dại khác. Gieo mầm nấm Gieo lỗ: Dùng khoan, khoan vào thân cây những lỗ sâu khoảng 5 cm, khoảng cách từ 10 đến 15 cm. Ðường kính của lỗ khoan có thể từ 10 đến 20 mm. Sau đó người ta bỏ mầm nấm vào đó và lấy băng keo dán lại để tránh mầm bị khô đi. Sau khi mầm nảy rễ có thể tháo cái băng keo ra. Gieo vào đưòng cắt: Ðường cắt được cắt sâu vào giữa thân cây với khoảng cách 15 cm. Chiều rộng của đường cắt vào khoảng 10 mm. Mần được dặt vào đó và đường cắt cũng được dán lại bằng băng keo. Sau khi gieo mầm nấm người ta có thể dựng những thân cây này vào những chỗ mát trong vườn. Nhưng chỗ thuận tiện là những nơi rợp cớm như dưới bóng cây và đặc biệt ẩm thấp không có gió luồn.

Thân cây nên chôn xuống đất vào khoảng 30 cm để có thể hút nước lên tránh bị khô. Trong những lúc nóng khô nên dùng một túi nhựa trùm lại để tránh mất nước. Nếu quá khô có thể tưới thêm để rễ nấm đừng bị chết. Thời gian thu hoạch có thể kéo dài đến 5-6 năm tùy theo độ cứng bền của cây gỗ. Tổng số thu hoạch nấm thể từ 20 -30 % trọng lượng của cây gỗ tươi .

Tác dụng của nấm đông cô

1. Các nhà khoa học đã chiết xuất được chất lentinan và Lentinula Edodes mycelium (LEM) từ nấm đông cô  . Đây là 2 chất chính tạo nên tác dụng dược lý của loại nấm này. Một nghiên cứu tại Nhật cho thấy, những bệnh nhân ung thư đang hóa trị nếu dùng thêm Lentinan thì hiệu quả hóa trị sẽ tăng lên, khả năng sống sót cao hơn và sự tiến triển của ung thư sẽ bị kìm hãm. Vì vậy ở Nhật, Lentinan đã được chấp nhận như một liệu pháp phụ trợ trong tiến trình dùng hóa trị liệu.

2.Lentinan đã được chứng minh là có khả năng kích thích các tế bào của hệ miễn dịch (như tế bào lympho ở máu ngoại vi) làm tăng sức đề kháng. Nó cũng kích thích các “tế bào sát thủ tự nhiên” trong cơ thể để chúng tấn công những tế bào ung thư.

3.Theo một nghiên cứu khác, nấm đông cô chứa chất Eritadenin, có tác dụng làm hạ cholesterol bằng cách làm tăng sự thoái biến cholesterol trong gan. Loại nấm này còn làm giảm tác dụng tăng cholesterol của chất béo và giúp hạ huyết áp.

4. Các nhà khoa học Nhật cũng đã tiến hành những nghiên cứu về tác dụng chống virus của nấm đông cô. Kết quả là chất LEM trong loài thực vật này giúp tạo ra kháng thể chống virus viêm gan B. Trong số 40 bệnh nhân viêm gan B mạn tính đã được uống LEM 6 g/ngày trong 4 tháng, tất cả đều giảm triệu chứng viêm gan, có 15 người hết sạch virus B. Chất LEM còn làm chậm sự tiến triển của ung thư gan, bảo vệ tế bào gan.

Các thử nghiệm cũng cho thấy, chất Lentinan đơn độc không có tác dụng gì đối với HIV, nhưng nếu phối hợp với AZT thì tác dụng diệt virus tăng lên 24 lần so với dùng AZT đơn độc.

5. Lentinan còn có khả năng giúp những người bị lao phổi chống lại độc tố của vi khuẩn lao. Nếu sử dụng Lentinan 1 g/ngày, mỗi tuần 2 lần thì tỷ lệ opsonin trong máu rất cao, có thể ngăn chặn hoàn toàn độc tố của vi khuẩn lao trong cơ thể.

6. Ở Trung Quốc, nấm đông cô đã được sử dụng từ rất lâu đời để chữa một số bệnh như bí tiểu, phù thũng, ngộ độc do các loại nấm khác (dùng 90 g nấm khô nấu chín để ăn). Trẻ em bị sởi và đậu mùa có thể dùng 6 g nấm khô nấu chín và ăn ngày 2 lần.

7. Nấm đông cô còn được dùng làm thực phẩm và thuốc rất phổ biến tại Nhật. Theo y học cổ truyền của nước này, nó có tác dụng chống oxy hóa, giúp chống lão hóa tế bào, tăng cường sức lực, giảm mệt mỏi ở những người làm việc quá căng thẳng. Liều dùng tốt nhất là 6-16 g nấm khô hoặc 90 g nấm tươi.

nấm đông cô Nhật Bản

Nấm đông cô Nhật Bản

Giá bán: 400.000  VND/kg

Giá thị trường: 600.000 VND/kg

Liên hệ: Nhà thuốc Đông y Nhân Tâm

Địa chỉ: Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Trung Hòa – Cầu Giấy – Hà Nội

Điện thoại: 0978996997 gặp Mr Định

Tên thuốc: Nấm đông cô Nhật Bản

Quy cách: Đường kính nấm từ 5 đến 8 cm

Nhà sản xuất: Trang trại nấm Nhật Bản

Xuất xứ: Nhật Bản (Japan)

nấm đông cô Nhật Bản

nấm đông cô Nhật Bản

Ở Trung Quốc và Nhật Bản, nấm đông cô được dùng như một vị thuốc quý từ hàng nghìn năm nay do có tác dụng tăng cường khí lực, kích thích ăn uống, điều hòa khí huyết.

Người Trung Quốc gọi  là Dong-Gu (phiên âm tiếng Việt thành đông cô), người Nhật gọi Shiitake. Nấm này có tên khoa học là Lentinula Edodes, thuộc họ Pleurotaceae.

Nấm đông cô có dạng như cái ô, đường kính 4-10 cm, màu nâu nhạt, khi chín chuyển thành nâu sậm. Trên mặt nấm có những vảy nhỏ màu trắng. Thịt nấm màu trắng, cuống hình trụ. Nấm mọc ký sinh trên những cây có lá to và thay lá mỗi mùa như dẻ, sồi, phong. Loài thực vật này mọc hoang nhiều ở Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc. Ở Mỹ, nông dân trồng nấm hương tại các trang trại. Mỗi khúc gỗ có thể cho nấm ký sinh 3-7 năm.

Nấm đông cô  chứa khá nhiều đạm và đặc biệt giàu khoáng chất, vitamin, chẳng hạn như vitamin C, B, tiền vitamin D, canxi, Niacin, nhôm, sắt, magiê… Nó có khoảng 30 enzym và tất cả các acid amin tối cần cho cơ thể (tức là những acid amin mà cơ thể không tổng hợp được). Nấm cũng có một số alcool hữu cơ mà khi nấu chín, các alcool này biến đổi, tạo thành mùi thơm đặc biệt của nó.Vì Shiitake có chứa nhiều chất cần thiết cho cơ thể nên những người ăn chay nên dùng thường xuyên loại nấm này .

Cách nhận loại nấm: Mũ nấm lớn khoảng 5-20 cm; màu nâu vàng, nâu xám, nâu đậm, co hình cong; mũ và thân mọc chắc liền nhau . Dưới mũ: trắng nhạt, hơi vàng nâu, mọc tròn và có dạng răng cưa Thân: vàng nâu, mọc moc xéo qua một bên , hoặc ở trung tâm Thịt nấm: từ trắng đến có màu vàng lạt Mùa nấm: quanh năm Mùi vị: thơm, giống như hành Trồng nấm trên thân cây

Nấm đông cô được trồng trên thân cây . Người ta dùng các thân cây lớn khoảng từ 15 đến 25 cm (đường kính). Ðặc biệt các thân cây sồi rất thích hợp với giống nấm này. Nên dùng những thân cây còn tươi, sạch để tránh những loại nấm dại khác. Gieo mầm nấm Gieo lỗ: Dùng khoan, khoan vào thân cây những lỗ sâu khoảng 5 cm, khoảng cách từ 10 đến 15 cm. Ðường kính của lỗ khoan có thể từ 10 đến 20 mm. Sau đó người ta bỏ mầm nấm vào đó và lấy băng keo dán lại để tránh mầm bị khô đi. Sau khi mầm nảy rễ có thể tháo cái băng keo ra. Gieo vào đưòng cắt: Ðường cắt được cắt sâu vào giữa thân cây với khoảng cách 15 cm. Chiều rộng của đường cắt vào khoảng 10 mm. Mần được dặt vào đó và đường cắt cũng được dán lại bằng băng keo. Sau khi gieo mầm nấm người ta có thể dựng những thân cây này vào những chỗ mát trong vườn. Nhưng chỗ thuận tiện là những nơi rợp cớm như dưới bóng cây và đặc biệt ẩm thấp không có gió luồn.

Thân cây nên chôn xuống đất vào khoảng 30 cm để có thể hút nước lên tránh bị khô. Trong những lúc nóng khô nên dùng một túi nhựa trùm lại để tránh mất nước. Nếu quá khô có thể tưới thêm để rễ nấm đừng bị chết. Thời gian thu hoạch có thể kéo dài đến 5-6 năm tùy theo độ cứng bền của cây gỗ. Tổng số thu hoạch nấm thể từ 20 -30 % trọng lượng của cây gỗ tươi .

Tác dụng của nấm đông cô

1. Các nhà khoa học đã chiết xuất được chất lentinan và Lentinula Edodes mycelium (LEM) từ nấm đông cô  . Đây là 2 chất chính tạo nên tác dụng dược lý của loại nấm này. Một nghiên cứu tại Nhật cho thấy, những bệnh nhân ung thư đang hóa trị nếu dùng thêm Lentinan thì hiệu quả hóa trị sẽ tăng lên, khả năng sống sót cao hơn và sự tiến triển của ung thư sẽ bị kìm hãm. Vì vậy ở Nhật, Lentinan đã được chấp nhận như một liệu pháp phụ trợ trong tiến trình dùng hóa trị liệu.

2.Lentinan đã được chứng minh là có khả năng kích thích các tế bào của hệ miễn dịch (như tế bào lympho ở máu ngoại vi) làm tăng sức đề kháng. Nó cũng kích thích các “tế bào sát thủ tự nhiên” trong cơ thể để chúng tấn công những tế bào ung thư.

3.Theo một nghiên cứu khác, nấm đông cô chứa chất Eritadenin, có tác dụng làm hạ cholesterol bằng cách làm tăng sự thoái biến cholesterol trong gan. Loại nấm này còn làm giảm tác dụng tăng cholesterol của chất béo và giúp hạ huyết áp.

4. Các nhà khoa học Nhật cũng đã tiến hành những nghiên cứu về tác dụng chống virus của nấm đông cô. Kết quả là chất LEM trong loài thực vật này giúp tạo ra kháng thể chống virus viêm gan B. Trong số 40 bệnh nhân viêm gan B mạn tính đã được uống LEM 6 g/ngày trong 4 tháng, tất cả đều giảm triệu chứng viêm gan, có 15 người hết sạch virus B. Chất LEM còn làm chậm sự tiến triển của ung thư gan, bảo vệ tế bào gan.

Các thử nghiệm cũng cho thấy, chất Lentinan đơn độc không có tác dụng gì đối với HIV, nhưng nếu phối hợp với AZT thì tác dụng diệt virus tăng lên 24 lần so với dùng AZT đơn độc.

5. Lentinan còn có khả năng giúp những người bị lao phổi chống lại độc tố của vi khuẩn lao. Nếu sử dụng Lentinan 1 g/ngày, mỗi tuần 2 lần thì tỷ lệ opsonin trong máu rất cao, có thể ngăn chặn hoàn toàn độc tố của vi khuẩn lao trong cơ thể.

6. Ở Trung Quốc, nấm đông cô đã được sử dụng từ rất lâu đời để chữa một số bệnh như bí tiểu, phù thũng, ngộ độc do các loại nấm khác (dùng 90 g nấm khô nấu chín để ăn). Trẻ em bị sởi và đậu mùa có thể dùng 6 g nấm khô nấu chín và ăn ngày 2 lần.

7. Nấm đông cô còn được dùng làm thực phẩm và thuốc rất phổ biến tại Nhật. Theo y học cổ truyền của nước này, nó có tác dụng chống oxy hóa, giúp chống lão hóa tế bào, tăng cường sức lực, giảm mệt mỏi ở những người làm việc quá căng thẳng. Liều dùng tốt nhất là 6-16 g nấm khô hoặc 90 g nấm tươi.

chè vằng Nghệ An

Chè vàng lợi sữa

Nấm linh chi Hàn Quốc giá 500 nghìn/kg

Giá bán: 50 nghìn/kg

Giá thị trường: 60 nghìn/kg

Liên hệ: Anh Định

Điện thoại: 0978.996.997

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Cầu Giấy – Hà Nội

web: yhoccotruyen.vn

chè vằng Nghệ An

chè vằng Nghệ An

Vằng (danh pháp hai phần: Jasminum subtriplinerve C. L. Blume, thuộc họ Ô liu), còn gọi là chè vằng, chè cước man, cẩm văn, cẩm vân, dây vắng, cây lá ngón, mỏ sẻ, mỏ quạ, râm trắng, râm ri, lài ba gân, là một loại cây bụi nhỏ mọc hoang, được người dân Việt Nam tại nhiều vùng miền sử dụng dưới dạng sắc thuốc hay pha nước uống, đặc biệt tốt khi dành cho các sản phụ.

Đặc điểm

Cây chè vằng mọc hoang ở khắp nơi, là loại cây bụi nhỏ, đường kính thân không quá 6mm. Thân cứng, từng đốt vươn dài hàng chục mét, phân nhánh nhiều. Vỏ thân nhẵn màu xanh lục. Lá mọc đối hơi hình mác, phía cuống tròn, mũi nhọn, có ba gân chính nổi rõ ở mặt trên, mép nguyên, càng lên ngọn, cành lá càng nhỏ. Hoa màu trắng mọc thành xim ở đầu cành, quả hình cầu[1].

Theo nhân dân, có 3 loại vằng, vằng lá nhỏ (vằng sẻ) dùng tốt hơn cả, vằng lá to (vằng trâu) cũng được dùng, còn vằng núi không dùng làm thuốc[2].
Phân biệt chè vằng và lá ngón

Chè vằng dễ nhầm lẫn với lá ngón (Gelsemium elegans Benth.), một loại cây rất độc (thuốc độc bảng A), không chỉ vì cây chè vằng đôi khi còn được gọi là cây lá ngón, mà còn vì hình dạng bên ngoài, thân, cành chè vằng tương đối giống với thân cành lá ngón, nhất là khi đã chặt khỏi gốc và bỏ hết lá.

Cây chè vằng có thể phân biệt với cây lá ngón nhờ vào đặc điểm lá, hoa và quả[1]. Lá chè vằng có 3 gân dọc trong đó 2 gân bên uốn cong theo mép lá, rõ rệt. Hoa chè vằng màu trắng với mười cánh hoa trong khi hoa lá ngón mọc thành chùm, phân nhánh nhiều lần (từ 2 đến 3 lần) màu vàng. Quả chè vằng hình cầu cỡ hạt ngô, chín màu vàng, có một hạt rắn chắc trong khi quả cây lá ngón hình trụ (khoảng 0,5x1cm), khi chín tự mở, nhiều hạt (tới 40 hạt), nhỏ, hình thận, có diềm mỏng, phát tán theo gió.
Tác dụng

Nghiên cứu dược lý chứng minh lá chè vằng có chứa alcaloid, nhựa, flavonoid[2], có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, làm tăng nhanh tái tạo tổ chức, làm mau lành vết thương và không độc[3]. Bộ phận dùng làm thuốc là cành, lá tươi hoặc cành, lá phơi sấy khô, thu hái quanh năm.

Tác dụng đặc biệt của chè vằng đối với phụ nữ sau sinh cũng được kiểm nghiệm. Là thuốc bổ đắng dùng rất tốt cho phụ nữ đẻ, chè vằng cũng có thể trị nhiễm khuẩn sau đẻ, viêm hạch bạch huyết, viêm tử cung, viêm tuyến sữa, bế kinh, khí hư, thấp khớp, nhức xương[2].

Kinh nghiệm dân gian Việt Nam thường dùng lá chè vằng đun lấy nước tắm rửa chữa ghẻ[4], ngứa hay lở chốc. Tại miền Nam Việt Nam, thân cây vằng được sử dụng đan rế hay đánh dây thừng vì cây rất dai. Lá được dùng dưới dạng thuốc sắc hay pha như pha trà để chữa sưng vú, mụn nhọt; còn dùng chữa rắn rết hay côn trùng cắn; rễ cây vằng mài với dấm thanh để làm hết mủ những ung nhọt đã nung mủ. Liều uống hàng ngày khoảng 20-30g lá khô sắc uống, nếu dùng ngoài không kể liều lượng. Ngàoi ra còn có cao chè vằng là tinh chất 100% từ cây chè vằng, qua một quá trình chiết suất và cô đặc kéo dài từ 4-5 năm ngày được đun nấu liên tục với lượng nhiệt vừa đủ.

Bệnh viện Thái Bình dùng lá chè vằng giã nát đắp vào nơi áp xe vú hoặc giã lá với cồn 50 độ rồi đắp vào nơi áp xe ngày 3 lần, đêm 2 lần. Thời gian điều trị thường là 1 ngày đến 1 tuần tùy theo bệnh nặng hay nhẹ và được bắt đầu chữa bằng lá chè vằng sớm hay muộn, trung bình 1,5 đến 2 ngày[4].

Ngoài tác dụng kháng khuẩn, chống viêm, chè vằng được sử dụng dưới dạng đồ uống có tác dụng giải nhiệt, giải khát bổ gan, lợi mật, kích thích tiêu hoá, tăng cường tuần hoàn máu, giảm béo, lợi sữa[5].

kim ngân hoa

Bán kim ngân hoa

Kim ngân hoa khô giá bán 25 nghìn/100 Gram

Kim ngân dùng để tắm cho em bé bị nóng trong người, mụn nhọt, rôm

Liên hệ: Anh Định

Điện thoại: 0978.996.997

Nhà thuốc đông y Nhân Tâm

Số nhà 133 ngõ 106 Hoàng Ngân – Cầu Giấy – Hà Nội

web: yhoccotruyen.vn

kim ngân hoa

kim ngân hoa

(Flos Lonicerae Japonicae)

Thuốc có nhiều tên gọi như Ngân hoa, Kim ngân hoa, Nhẫn đông, Song hoa, Nhị hoa là hoa của cây Kim ngân (Lonicera Japonica Thumb) thuộc họ Cơm cháy (Caprifoliaceae).

Cây Kim ngân cho các vị thuốc: Hoa Kim ngân (Flos Lonicerae) và cành lá Kim ngân (Caulis cumfolium Lonicerae) có tác dụng tương tự nhưng kém hơn.

Thuốc vị ngọt tính hàn, qui kinh phế vị tâm tỳ đại tràng.

Thành phần chủ yếu:

Có glucozit là lonixerin (theo các học giả Nhật) năm 1961, nhiều saponozit (Đỗ tất Lợi), trong Kim ngân hoa có inozit (hay inozitol) chừng 1%.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền: Kim ngân hoa có tác dụng thanh nhiệt giải độc.

B.Theo kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại chứng minh thuốc có tác dụng:

1.Kháng khuẩn: Thuốc có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn như: tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn dung huyết, phế cầu khuẩn, trực khuẩn lî, trực khuẩn ho gà, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, não cầu khuẩn, trực khuẩn lao ở người . cùng các loại nấm ngoài da, spirochete, virut cúm.

2.Chống viêm, làm giảm chất xuất tiết, giải nhiệt và làm tăng tác dụng thực bào của bạch cầu.

3.Tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh cường độ bằng 1/6 của cà phê.

4.Làm hạ cholesterol trong máu.

5.Tăng bài tiết dịch vị và mật.

6.Tác dụng thu liễm do có chất tanin.

7.Thuốc có tác dụng lợi tiểu.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng ngoại cảm phong nhiệt: ( thời kỳ đầu của ôn bệnh) thường kết hợp với Kinh giới, Bạc hà, Liên kiều dùng bài Ngân kiều tán.

2.Trị mụn nhọt lở ngoài da: dùng uống trong và đắp ngoài. Thuốc uống kết hợp với Bồ công anh, Dã cúc hoa, Hoàng cầm . dùng bài Tiên phương hoạt mệnh ẩm, Tứ diệu dũng an thang.

3.Trị lî trực khuẩn: có thể dùng độc vị hoặc kết hợp dùng thêm Hoàng liên, Hoàng cầm, Bạch đầu ông.

Liều thường dùng và chú ý:

Liều 12 – 40g, dùng tươi và đắp ngoài lượng nhiều hơn và tùy tình hình bệnh lý.
Trường hợp tỳ vị hư hàn dùng thận trọng, nếu dùng thuốc gây tiêu chảy có thể bớt liều.